VÂN TRAI TRẦN QUANG ĐỨC雲齋山莊
LỜI BẠT NGÀN NĂM ÁO MŨ

LỜI BẠT NGÀN NĂM ÁO MŨ

Trước khi có sự phân định nghiêm ngặt về địa chính trị, các cộng đồng dân cư chung sống trên cùng khu vực địa lý thường có sự giao lưu, chia sẻ, ảnh hưởng lẫn nhau về ngôn ngữ, phong tục v.v., một cách tự nhiên... Văn minh Trung Quốc không tự nhiên có sẵn; dung nạp trong đó chắc chắn có không ít thành tố văn hóa mang nguồn gốc Đông Di, Bách Việt. Song kể từ khi bộ máy chính quyền phong kiến Trung Quốc hình thành, đi kèm với chính sách đồng hóa “dùng Hạ biến di”, văn minh Trung Quốc từng bước thâm nhập và gây ảnh hưởng sâu rộng tới các vùng đất, quốc gia xung quanh nó, trong đó có Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản. Trong khi Nhật Bản với vị trí địa lý quốc đảo, nhiều lần phái các đoàn khiển Đường sứ chủ động học tập, du nhập văn minh Đường, Việt Nam và Triều Tiên lại có quốc thổ gắn liền với đại lục Trung Quốc, đều từng hứng chịu những chính sách đồng hóa văn hóa. Sau khi giành được độc lập, với quan niệm văn minh Trung Quốc là thước đo tiến bộ, Việt Nam và Triều Tiên lại nhiều lần chủ động mô phỏng điển chương văn hiến của triều đình Trung Quốc. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, những nét văn hóa tưởng như chỉ có ở Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản lại thường tìm thấy sự tương đồng hoặc tương cận của nó tại Trung Quốc.

Khoảng 100 năm trở lại đây, sau khi chủ nghĩa quốc gia, tư tưởng dân tộc được dịp lớn mạnh, Nhật Bản thừa nhận và tự hào cho rằng, họ học tập văn minh Trung Hoa, đồng thời đẩy lên một tầm cao mới, còn Hàn Quốc và Việt Nam lại diễn ra các cuộc tranh cãi về vấn đề “bản quyền” của các thành tố văn hóa vốn được coi là có nguồn gốc Trung Hoa. Có thể điểm qua việc ông Kim Định, Hà Văn Thùy chứng minh Nho giáo mang nguồn gốc Việt, chân núi Thái Sơn từng là địa bàn cư trú của dân tộc Việt, Kinh Dịch là phát minh của người Lạc Việt v.v., tương tự trường hợp ông Ban Mun Ki, Kang Sang Won chứng minh chữ Hán là phát minh của người Hàn Quốc, sau đó dấy lên một loạt các bài viết tuyên bố người Hàn là chủ thể sáng tạo ra Đông y, Kinh Dịch, la bàn, thậm chí Khổng Tử, Tôn Trung Sơn là người Hàn Quốc v.v. Những nghiên cứu cổ sử dạng này, đều chịu sự chi phối của tinh thần dân tộc, còn nặng tính tư biện, suy diễn, thiếu chứng cứ khoa học xác tín. Bên cạnh đó, đứng ở góc độ “trung tâm” để soi chiếu các nước xung quanh, không ít học giả Trung Quốc lại có tâm thái, giọng điệu của nước lớn, coi văn hóa Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản chỉ đơn giản là sự khúc xạ của văn minh Trung Hoa, thiếu cái nhìn tôn trọng, khách quan đối với văn hóa, lịch sử của các quốc gia này. Đây là hai thái độ cực đoan trong việc nghiên cứu, đối sánh văn hóa, cần được nhìn nhận và phê bình một cách nghiêm túc.

Được xác định giới hạn nghiên cứu nằm trong giai đoạn 1009 - 1945, giai đoạn ít nhiều còn sử liệu, hiện vật ấn chứng, Ngàn năm áo mũ thể hiện một góc nhìn lịch sử, tư tưởng, mỹ thuật Việt Nam thông qua dòng chảy biến thiên của văn hóa trang phục; đồng thời làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa trang phục Việt Nam so với trang phục của các nước đồng văn, đặc biệt là Trung Quốc. Từ kết quả nghiên cứu này, cách ăn mặc, lối sống của người Việt trong khoảng 1000 năm trở lại đây đã bước đầu sáng tỏ. Đây sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu phong tục, lối sống của người Việt trong quá khứ xa xưa hơn, nhằm từng bước tìm ra cái lõi “bản sắc” trong văn hóa Việt Nam.

Mỗi thời đều có giá trị quan, thẩm mỹ quan riêng. Mọi lời khen chê, đánh giá chỉ mang tính nhất thời. Cuốn sách bạn đọc cầm trên tay được viết nên bằng sự tôn trọng sự thật của ngàn năm áo mũ người Việt, không có đánh giá đúng sai, hay dở. Với tư cách là tác giả, tôi hy vọng bạn đọc có cái nhìn công tâm, bình tĩnh đối với văn hóa trang phục Việt Nam nói riêng, văn hóa cung đình Việt Nam nói chung, đặc biệt đối với những thành tố văn hóa Trung Hoa dung chứa trong văn hóa Việt.

Hà Nội, cuối xuân năm Quý Tị 2013. Trần Quang Đức